.
Cập nhật lúc 15:26, Thứ Ba, 19/07/2016 (GMT+7)

Dự thảo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi):

Tăng mức hoàn trả, xử lý kỷ luật cán bộ thi hành công vụ gây oan sai

(BVPL) - Bên cạnh những quy định chung, Dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) sửa đổi đã nêu rõ những quy định cụ thể về: Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; thiệt hại được bồi thường; cơ quan giải quyết bồi thường, cơ quan gây thiệt hại; thủ tục giải quyết bồi thường... Là cơ chế hiệu quả để ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực nhà nước, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ.

 

TIN LIÊN QUAN

“Buộc” trách nhiệm bồi thường với trách nhiệm cán bộ làm sai

Luật TNBTCNN hiện hành quy định về cơ quan có trách nhiệm bồi thường là cơ quan quản lý người thi hành công vụ nên có rất nhiều cơ quan giải quyết bồi thường (từ cấp xã đến cấp trung ương), dẫn tới: việc giải quyết bồi thường không thống nhất; khó bố trí nguồn nhân lực và các điều kiện khác để triển khai thi hành Luật một cách hiệu quả, chuyên nghiệp; việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường để yêu cầu bồi thường của cá nhân, tổ chức gặp khó khăn. Tồn tại hiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm trong việc giải quyết bồi thường của các cơ quan có trách nhiệm bồi thường.

 

 Bồi thường và xin lỗi công khai người bị oan sai.
Bồi thường và xin lỗi công khai người bị oan sai.


Nhằm bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành, Dự thảo bổ sung các trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như: Buộc thôi việc đối với công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống để phù hợp với quy định của Luật Khiếu nại năm 2011; bổ sung trường hợp người bị bắt, bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố, xét xử; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật...

Quy định chặt chẽ, cụ thể trách nhiệm kỷ luật và tăng mức hoàn trả để tăng cường trách nhiệm của người thi hành công vụ nhằm đảm bảo tính răn đe và hạn chế tác động tiêu cực đến hoạt động công vụ bình thường của cán bộ, công chức. Cụ thể: sửa đổi, bổ sung quy định về nghĩa vụ hoàn trả, xác định mức hoàn trả, miễn, giảm trách nhiệm hoàn trả, thẩm quyền, thủ tục xác định trách nhiệm hoàn trả và xác định trách nhiệm hoàn trả trong một số trường hợp cụ thể.

Bổ sung các quy định về việc xem xét, xử lý kỷ luật người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại. Cụ thể, đã bổ sung quy định về nguyên tắc áp dụng pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và pháp luật khác có liên quan trong việc xem xét, xử lý kỷ luật. Đồng thời, quy định một số đặc thù trong việc xem xét, xử lý kỷ luật người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại để việc xử lý kỷ luật được thực hiện nghiêm, thống nhất.

Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác bồi thường, Dự thảo quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong các lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Đồng thời, để bảo đảm việc giải quyết bồi thường khách quan, minh bạch, tạo điều kiện cho việc giải quyết bồi thường của các cơ quan nhà nước, bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại, Dự thảo quy định cụ thể các cơ quan giải quyết bồi thường trong các lĩnh vực theo hướng tập trung tương đối như Cơ quan giải quyết bồi thường trong quản lý hành chính; Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự bao gồm: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan công an, cơ quan giải quyết bồi thường trong Quân đội và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính...

Lượng hóa thiệt hại được bồi thường

Luật TNBTCNN hiện hành chưa cụ thể hóa các quyền dân sự để bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp 2013. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không còn phù hợp, đồng bộ, thiếu tính thống nhất với các bộ luật, luật có liên quan được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới. Luật TNBTCNN chưa dự liệu hết các khoản thiệt hại được bồi thường trong thực tế nên chưa quy định đầy đủ các khoản thiệt hại phải bồi thường. Một số thiệt hại được bồi thường chưa được lượng hóa, do đó thiếu căn cứ xác định mức bồi thường, gây khó khăn cho quá trình thương lượng, giải quyết bồi thường.

Dự luật TNBTCNN sửa đổi quy định thêm và lượng hóa một số thiệt hại được bồi thường mà Luật TNBTCNN hiện hành chưa quy định để bảo đảm phù hợp với BLDS, như: quy định nguyên tắc xác định thiệt hại; quy định rõ ràng hơn, bảo đảm tính khả thi trong việc tính thiệt hại, bổ sung một số thiệt hại được bồi thường như thiệt hại do bị phạt hợp đồng; quy định về cách thức thực hiện khôi phục danh dự, khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp khác và trả lại tài sản. Đồng thời, lượng hóa một số thiệt hại được bồi thường, quy định rõ mức thiệt hại được bồi thường: về thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết; thiệt hại về vật chất do sức khỏe bị xâm phạm; thiệt hại về tinh thần.

Việc giải quyết bồi thường được sửa đổi theo nguyên tắc dân sự, theo hướng cải cách mạnh mẽ trình tự, thủ tục, đơn giản hóa TTHC trong việc giải quyết bồi thường, quy định rõ thời hạn trong các thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án, các cơ quan giải quyết bồi thường. Đồng thời, bổ sung các quy định về thủ tục khôi phục danh dự theo hướng cụ thể, rõ ràng để áp dụng thống nhất như xin lỗi, cải chính công khai và đăng báo.

Cải cách quy trình cấp phát kinh phí chi trả tiền bồi thường theo hướng tập trung vào một đầu mối, theo đó, Dự thảo quy định rõ kinh phí bồi thường theo hướng kinh phí bồi thường là một mục trong mục lục ngân sách để luôn bảo đảm, chủ động về kinh phí cho công tác bồi thường nhà nước; quy định về việc cấp phát kinh phí bồi thường và chi trả tiền bồi thường theo hướng đơn giản, nhanh gọn, bỏ thủ tục thẩm định tại cơ quan tài chính. Cơ quan tài chính có trách nhiệm nhanh chóng cấp phát kinh phí bồi thường khi có quyết định giải quyết bồi thường, bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật. Ngay sau khi được cấp kinh phí, cơ quan giải quyết bồi thường có trách nhiệm chi trả cho người bị thiệt hại.

 

Trong 6 tháng đầu năm 2016, các cơ quan có trách nhiệm bồi thường trên cả nước đã thụ lý 69 vụ việc (trong đó có 17 vụ việc thụ lý mới, giảm 05 vụ so với cùng kỳ năm 2015), đã giải quyết xong 15/69 vụ việc. Số tiền Nhà nước phải bồi thường trong các quyết định giải quyết bồi thường, bản án, quyết định về giải quyết bồi thường đã có hiệu lực pháp luật là 08 tỷ 721 triệu 392 nghìn đồng (giảm 5 tỷ 678 triệu 061 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2015).

 

Hà Nhân

,
.
.
Ý kiến bạn đọc
.
.
.