.
Cập nhật lúc 10:08, Thứ Ba, 06/06/2017 (GMT+7)

Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV

Thảo luận dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự 2015: Các đại biểu "mổ xẻ" nhiều điều, khoản "nóng"

(BVPL) - Tại phiên thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, Các ĐBQH đã có nhiều ý kiến “mổ xẻ” nhiều điều, khoản của dự án Luật này.
 

TIN LIÊN QUAN

Áp lực tạo tâm lý cho người tiến hành tố tụng phải thận trọng hơn


Theo ĐB Nguyễn Ngọc Phương (đoàn Quảng Bình): về Điều 377, tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật, so với Bộ luật hình sự năm 2015, dự thảo đã sửa đổi, bổ sung các Điểm b, đ, Khoản 1, theo đó các hành vi, các hình thức lợi dụng chức vụ, quyền hạn quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quy định của pháp luật nay bổ sung thêm các tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng đã bị xử lý kỷ luật về một trong các hành vi này mà còn vi phạm thì mới cấu thành tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật. Việc sửa đổi như vậy theo báo cáo giải trình nhằm tránh việc xử lý hình sự quá rộng, ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Đồng ý với ý kiến của ĐB Phương, ĐB Nguyễn Trường Giang (đoàn Đắk Nông) bổ sung thêm: Dự thảo Luật sửa đổi giảm trách nhiệm hình sự của người lợi dụng chức vụ, quyền hạn quy định tại Điều 377 trong việc bắt, giữ, giam người trái pháp luật chưa phù hợp với tinh thần của Hiến pháp về bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, chưa thể chế đúng chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp theo hướng nâng cao tính chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và tố tụng của mình đã được đề ra trong Nghị quyết số 08 và Nghị quyết số 49. Sửa đổi như vậy cũng không công bằng ngay trong điều luật với những người có chức vụ, quyền hạn thấp hơn và cao hơn. Do đó, ĐB này đề nghị giữ quy định này của Bộ luật hình sự năm 2015.

Không nhất trí với ý kiến của 2 ĐB trên, ĐB Nguyễn Quang Dũng (đoàn Quảng Nam) nhìn nhận và tán thành cao với việc Ban soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh lý Điều 377 Bộ luật hình sự theo hướng quy định một số điều kiện để áp dụng trong Điểm b và Điểm d nhằm giảm bớt việc xử lý hình sự trong phạm vi quá rộng với những người thi hành tố tụng. Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật hiện hành và tiến trình cải cách tư pháp thì trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng ngày càng cao, thời gian giam giữ và các thời hạn tố tụng theo xu hướng ngày càng giảm. Do đó, áp lực công việc đối với những người thi hành tố tụng là rất lớn.

 

1
Đại biểu Nguyễn Quang Dũng (Quảng Nam) phát biểu tại buổi thảo luận.


Trong khi đó, việc truy cứu trách nhiệm hình sự là công việc mang tính hoàn toàn nhận thức của con người, không có sự hỗ trợ về các phương tiện khác. Do đó, dẫn đến ý thức chủ quan hoặc chậm trễ trong xử lý do những nguyên nhân khách quan là việc dễ xảy ra. “Chúng tôi thấy trong Điểm b và Điểm d quy định trong hai trường hợp này là cần thiết vì Điểm b, để xác định một người ra lệnh, ra quyết định bắt, giam, giữ người không có căn cứ là việc không phải ngay từ đầu chúng ta có thể làm ngay được, nhận thức rõ ngay được vì một trường hợp quy định, quy buộc có tội hay không nhiều khi phải truy tố, xét xử 2 đến 3 lần mới xác định được sự thật.

Trong khi đó, quy định của Bộ luật tố tụng thì trong những trường hợp này chỉ cần xác định có dấu hiệu của tội phạm thì có thể áp dụng. Do đó, có những trường hợp để đảm bảo tính kịp thời thì cơ quan tố tụng phải áp dụng ngay những biện pháp này, từ đó tồn tại tính rủi ro cao. Nếu chỉ cần ra lệnh mà chưa xảy ra hậu quả đã phải chịu trách nhiệm hình sự như thế quá nặng nề và tạo ra áp lực tâm lý đối với lực lượng những người thi hành tố tụng, ảnh hưởng đến tâm lý sẽ chùn tay, không dám làm, như thế không đáp ứng được yêu cầu trong việc phải đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay” - ông Dũng nhận xét.

Còn, trường hợp giam, giữ quá hạn là do tính thận trọng, khách quan, nhiều khi cần phải có thời gian để tránh oan sai, có thể do áp lực công việc dẫn đến. Trường hợp nếu chỉ cần ra lệnh trễ 1 giờ hoặc lệnh đến trễ 1 giờ mà trong khi có những điều kiện như lần trước chúng tôi phát biểu như do tắc đường, kẹt xe, những trường hợp như vậy cũng quy định là phải chịu trách nhiệm hình sự thì chúng tôi cho rằng sẽ tác động rất xấu đến tâm lý của những người tiến hành tố tụng như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Trong thực tế, chúng ta đã có những vụ oan sai đã phải xử lý đối với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán như vụ Nguyễn Thanh Chấn. Chính những áp lực như thế tạo ra tâm lý cho những người tiến hành tố tụng phải thận trọng hơn, trong khi thời hạn tố tụng, thời hạn giam giữ theo quy định của Bộ luật năm 2015 ngày càng giảm, do đó áp lực ngày càng lớn. “Chúng tôi đề nghị giữ như dự thảo mà Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình là hợp lý và hợp tình, phù hợp với thực tiễn, nó có tác động tích cực đến những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng”, ĐB Dũng đề nghị.

Không tố giác thân chủ, luật sư phải chịu trách nhiệm hình sự

ĐB Nguyễn Văn Chiến (Nguyễn Chiến) - TP. Hà Nội cho rằng: Về Điều 19 dự thảo Luật, tại Khoản 3 quy định người bào chữa phải chịu trách nhiệm hình sự do không tố giác khách hàng về các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 389 của bộ luật này. “Tôi đề nghị loại bỏ chủ thể luật sư ra khỏi điều luật”, ông Chiến đề nghị.

ĐB Chiến giải thích, nếu không thực hiện Điều 19 Bộ luật hình sự thì luật sư có thể phạm tội hình sự. Nếu thực hiện Điều 19, tố giác thân chủ, luật sư có thể bị thân chủ tố ngược là vu khống, quy định này còn có thể đẩy luật sư từ chỗ đang thực thi nhiệm vụ bào chữa cho thân chủ theo đúng quy định của pháp luật, bỗng dưng lại trở thành người bị tình nghi phạm tội, nhảy sang vị trí cùng với thân chủ khi bị xác minh xem xét trách nhiệm hình sự do không tố giác tội phạm.

ĐB Đỗ Ngọc Thịnh (đoàn Khánh Hoà) có ý kiến: “Trước tiên tôi thể hiện sự đồng tình, chia sẻ với luật sư Nguyễn Chiến khi trình bày các căn cứ về việc không tố giác tội phạm của luật sư tham gia các vụ án hình sự. Tuy vậy, chúng ta cũng phải nhìn vào thực tiễn hiện nay, một vấn đề được đặt ra là trong trường hợp luật sư bào chữa cho thân chủ của mình khi biết được thân chủ thực hiện các tội phạm thì trong trường hợp đó luật sư có được quyền không tố giác tội phạm. Nhưng trong Bộ luật hình sự chúng ta quy định những tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì vẫn phải tố giác tội phạm. Ở đây có một vấn đề chúng ta phải thấy khi tội phạm đó thực hiện rồi, luật sư biết thì luật sư sẽ không tố giác tội phạm kể cả những tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì ở đây thực tiễn quốc tế là như vậy. Nhưng chúng ta cũng phải thấy một vấn đề là khi họ chưa thực hiện hoặc chuẩn bị thực hiện tội phạm, ví dụ luật sư thấy thân chủ chuẩn bị thực hiện việc khủng bố hoặc tham gia kế hoạch khủng bố, đặt bom ở đâu đó sẽ gây thiệt hại cho cộng đồng xã hội và nhà nước thì trong trường hợp đó luật sư phải có trách nhiệm tố giác tội phạm vì đây là trách nhiệm công dân. Tuy vậy, trong Bộ luật hình sự quy định về các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có tới 84 tội, thì điều này rất dễ dẫn đến "tai nạn nghề nghiệp" cho luật sư.

Theo quan điểm cá nhân, ĐB Thịnh đề nghị những tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng vì các tội này quá rộng, tới 84 tội thì không có luật sư nào có thể biết hết được và rất dễ dẫn đến việc "tai nạn nghề nghiệp" của luật sư. Việc quy định như vậy không chỉ ảnh hưởng tới các luật sư tham gia bào chữa mà nó ảnh hưởng tới cả đội ngũ luật sư và nghề luật sư. Chính vì vậy, ông đề nghị cần khoanh lại những tội phạm nào mà luật sư cần tố giác tội phạm. Trước tiên, ông đồng ý các tội xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại Điều 108 đến Điều 121 thì có thể luật sư vẫn phải tố giác tội phạm trong trường hợp khi các tội phạm này chưa thực hiện hoặc có kế hoạch thực hiện. Khi họ thực hiện rồi thì chúng tôi đề nghị Ban soạn thảo cũng như Quốc hội cân nhắc việc này.

Ông cũng đề nghị trong 70 tội này cũng chỉ khoanh lại khoảng 13 tội từ Điều 123 tội giết người, Điều 134 tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác đến Điều 141 tội hiếp dâm, đến Điều 171 tội cướp giật tài sản, như vậy chúng ta khoanh khoảng 13 tội nữa cộng lại là khoảng 27 tội, quy định như vậy thì phù hợp với thực tiễn hiện nay hoạt động hành nghề luật sư và tạo cơ hội cho nghề luật sư phát triển. Điều quan trọng nhất không phải chỉ vì quyền của luật sư mà ở đây chúng ta cần phải tính tới việc luật sư tham gia các vụ án hình sự thì sẽ góp phần vào việc bảo vệ công lý và tạo lập niềm tin của thân chủ cũng như của cộng đồng xã hội vào nghề luật sư. ĐB Thịnh nêu quan điểm.

Chung quan điểm, ĐB Trương Trọng Nghĩa (đoàn TP. Hồ Chí Minh) cho rằng: “nên hạn chế lại các tội danh và một điểm nữa, nếu giữ điều này thì tôi đề nghị có thêm vế: trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 389 đối với luật sư thì tôi đề nghị hạn chế thêm. Nếu người bào chữa biết rõ và có đủ chứng cứ và nếu việc không tố giác sẽ gây nguy hiểm cho xã hội thì phải hạn chế đến mức như vậy chứ không phải anh chỉ biết sơ sơ anh đã đi tố giác khách hàng của anh. Một khi tố giác như vậy thì quan hệ của hai bên hoàn toàn tan vỡ và có thể nói người luật sư đó về sau hết sức khó hành nghề”, ông Nghĩa nói.

 

“Phát biểu của tôi là trên cơ sở vì lợi ích chung của quốc gia, của dân tộc”

Đó là chia sẻ của ĐB Nguyễn Thị Thuỷ (đoàn Bắc Kạn) với báo chí trước phát biểu của bà liên quan đến việc “luật sư tố giác thân chủ” khi thảo luận về dự Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13.

ĐB  Thủy  cho rằng: nghề Luật sư trước hết là nghề có trách nhiệm bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế. Bộ luật Hình sự 2015 đang quy định luật sư không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác thân chủ của mình, trừ trường hợp anh không tố giác tội mà thân chủ đã thực hiện là tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội đặc biệt nghiêm trọng khác.

Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, theo đại biểu Thuỷ, đây là điều đầu tiên bất kỳ người dân nào cũng phải bảo vệ. Nếu an ninh quốc gia bị lung lay, xâm phạm, đe dọa thì không một nghề nghiệp nào có thể ổn định để mà yên tâm, chứ chưa nói đến nghề bào chữa của luật sư.


Về các tội đặc biệt nghiêm trọng khác mà luật sư phải có nghĩa vụ tố giác được giới hạn ở Điều 389, tức chỉ một số tội đặc biệt nghiêm trọng, như tội giết người khi người bào chữa không tố giác tội đó thì anh phải chịu trách nhiệm do không tố giác tội phạm.   
 
“Ví dụ thân chủ đã thực hiện hành vi giết người chôn xác ở sau nhà, trong khi đó gia đình nạn nhân đang đau khổ tìm kiếm người thân, các cơ quan tố tụng cũng đang nỗ lực để tìm ra tội phạm hay thân chủ đó đã có hành vi đánh tráo trẻ em dưới 1 tuổi của gia đình này với con gia đình khác. Đó không chỉ là tội phạm hình sự thông thường nữa mà đó là tội ác. Bây giờ anh biết việc đó mà anh không tố giác ra thì tôi nghĩ rằng ở góc độ đạo đức, đạo lý của một con người thông thường đã không thể chấp nhận được, chưa nói một người luật sư mang trên mình sứ mệnh bảo vệ công lý, là người có trách nhiệm bảo vệ pháp chế theo Điều 3 của Luật Luật sư. Điều đó chúng tôi thấy không đồng tình với một số ý kiến phát biểu” - bà Thuỷ nói.

Bà Thủy nhấn mạnh: “Quan điểm của tôi cho rằng, nếu phi hình sự hóa tiếp tội không tố giác tội phạm do thân chủ của mình với tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội đặc biệt nghiêm trọng ở Điều 389 là điều rất đáng phải cân nhắc”.

Nói về một số ý kiến bày tỏ không đồng tình với phát biểu của mình, bà Thuỷ cho rằng “phát biểu của tôi là trên cơ sở vì lợi ích chung của quốc gia, của dân tộc, vì sự bình yên chung của nhân dân. Tôi rất lắng nghe các ý kiến, để từ đó có thêm thông tin để phục vụ hoạt động của người đại biểu đại diện cho nhân dân ngày càng tốt hơn”.  

Trước đó, tại buổi thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, bà Thuỷ cho rằng đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì không thể lấy bất kỳ lý do nào, kể cả lý do về hoạt động nghề nghiệp để không tố giác tội phạm, bởi Hiến pháp quy định bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.

Bà Thủy nêu rõ: Chúng ta đã đặt đúng vị trí của vấn đề an ninh quốc gia, vấn đề trừng trị các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia như vậy. Trong quá trình thực hiện hoạt động bào chữa của mình mà biết thân chủ của mình đã phạm vào các tội xâm phạm an ninh quốc gia, phạm vào các tội khủng bố, gián điệp, phản bội Tổ quốc mà không tố giác vì lý do nghề nghiệp thì chúng tôi cũng đặt câu hỏi là nếu như “bao che” cho những tội phạm này thì liệu có còn quốc gia nữa hay không để chúng ta yên tâm phát triển nghề nghiệp”.


Theo ĐB Thủy, so với Bộ luật Hình sự năm 1999 thì phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người bào chữa, trong đó có luật sư liên quan đến tố giác tội phạm trong Bộ luật hình sự 2015 đã được thu hẹp nhiều.
 

Ngọc Đức

 

Ngọc Đức

,
.
.
Ý kiến bạn đọc
.
.
.