.
Cập nhật lúc 19:31, Thứ Sáu, 05/08/2016 (GMT+7)

Con đường dẫn đến sự tuyệt chủng của động vật hoang dã

(BVPL) - Tình trạng buôn bán động vật hoang dã (ĐVHD) trái phép đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học của Việt Nam. Nhiều loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm khác như: hổ, voi, cá sấu, tê tê và các loài linh trưởng quý hiếm cũng đang bên bờ vực tuyệt chủng. Nhu cầu tiêu thụ ĐVHD ở Việt Nam và Trung Quốc được xem là nguyên nhân chính thúc đẩy tình trạng này. Nhiều ý kiến cho rằng, gây nuôi thương mại vừa là một giải pháp phát triển kinh tế vừa có giá trị bảo tồn. Tuy nhiên, thực tế việc quản lý lỏng lẻo dẫn đến việc gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD nguy cấp, quý hiếm lại được nhận định là “con đường” dẫn đến sự tuyệt chủng.

 

TIN LIÊN QUAN

“Lỗ hổng” quản lý gây nuôi thương mại ĐVHD

Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) tổ chức họp báo đề xuất các cơ quan quản lý Nhà nước nghiêm cấm gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. ENV cũng công bố kết quả cuộc khảo sát hoạt động gây nuôi thương mại ĐVHD ở các trang trại Việt Nam được thực hiện năm 2014- 2015. Kết quả khảo sát cho thấy, tình trạng nhập lậu ĐVHD và lợi dụng những kẽ hở của pháp luật để buôn bán trái phép ĐVHD đã diễn ra rất phổ biến tại các cơ sở được cấp phép gây nuôi. Bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc ENV nhấn mạnh: Chúng tôi cho rằng gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm sẽ gia tăng nhanh chóng nguy cơ tuyệt chủng của những loài này. Việc đem tương lai của nhiều loài ĐVHD nguy cấp bậc nhất trên thế giới để đánh đổi lấy lợi nhuận của một nhóm người là vô cùng mạo hiểm.

 

1
Gây nuôi thương mại “che chắn” cho hoạt động buôn bán động vật hoang dã trái phép.


Qua theo dõi của ENV, mạng lưới buôn bán ĐVHD tại Việt Nam chạy ngược từ Nam ra Bắc. Thị trường chính của ĐVHD có nguồn gốc gây nuôi được các chủ cơ sở xác định là: Trung Quốc, Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Hải Phòng. Trong đó, ĐVHD phần lớn được đưa sang Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái, Quảng Ninh. Cách thức phổ biến để vận chuyển trái phép ĐVHD là sử dụng một giấy phép vận chuyển mà địa chỉ người mua là một cơ sở gần cửa khẩu Móng Cái (giáp Trung Quốc). Thông thường, tên và địa chỉ người mua không có thực, nhằm gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong quá trình xác định tình trạng pháp lý của các cá thể ĐVHD cùng tính hợp pháp của điểm đến. Theo chủ các cơ sở gây nuôi, khi đến Móng Cái, ĐVHD sẽ tiếp tục được vận chuyển trái phép qua biên giới sang Trung Quốc.

Trong quá trình kiểm tra, các cơ quan thực thi pháp luật không thể phân biệt giữa ĐVHD hay sản phẩm từ ĐVHD hợp pháp và bất hợp pháp trên thị trường. Chính kẽ hở này vô tình đã tạo điều kiện cho các đối tượng “lách luật” và thực hiện hành vi bất hợp pháp. Một thực tế phổ biến khác là các cơ sở kinh doanh ĐVHD thường tái sử dụng giấy phép nhiều lần cho một loài nào đó khi giấy phép vẫn còn có hiệu lực, dẫn tới nhiều cá thể ĐVHD bị buôn bán hơn mức cho phép. Việc quản lý và giám sát các cơ sở kinh doanh cung cấp ĐVHD hoặc các sản phẩm từ ĐVHD cho khách hàng rất khó khăn. Những cơ sở này thường cất giấu kỹ ĐVHD hoặc các sản phẩm từ ĐVHD trong quá trình vận chuyển và tại các cơ sở kinh doanh, chỉ có hàng khi khách đặt. Việc theo dõi hoạt động buôn bán, săn bắt và vận chuyển ĐVHD cũng như sản phẩm từ ĐVHD thực sự là thách thức lớn đối với các cơ quan chức năng.

Theo một khảo sát gần đây của ENV tại một số cơ sở gây nuôi điển hình tại Việt Nam, tình trạng nhập lậu ĐVHD từ tự nhiên diễn ra phổ biến tại các cơ sở gây nuôi thương mại ĐVHD có quy mô lớn. Nhiều dấu hiệu cũng cho thấy các cơ sở và nhiều cán bộ thực thi pháp luật tại các địa phương lợi dụng những kẽ hở của pháp luật và cơ chế quản lý lỏng lẻo để thực hiện các hành vi phi pháp.Những thiếu sót trong ghi nhận và quản lý số lượng cá thể ĐVHD gây nuôi (bao gồm số lượng cá thể sinh ra và chết đi) là tình trạng phổ biến tại các cơ sở, song song với thực trạng giả mạo giấy phép vận chuyển.

Các cơ quan chức năng hiện không có khả năng quản lý hiệu quả hoạt động gây nuôi và buôn bán ĐVHD nói chung và đặc biệt các loài nguy cấp, quý, hiếm. Điều này được minh chứng rõ ràng bởi những vụ việc vi phạm gần đây liên quan đến các cơ sở được cấp phép gây nuôi ĐVHD, bao gồm: nhập lậu tê tê; buôn bán gấu con; một đối tượng có tiền án liên quan đến hổ được cấp phép nuôi bảo tồn hổ.

Gây nuôi thương mại “tiếp tay” buôn bán trái phép ĐVHD

Công tác bảo tồn ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm không thể diễn ra song hành với hoạt động gây nuôi thương mại những loài này. Trong khi mục tiêu của bảo tồn là để bảo vệ nền đa dạng sinh học, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội, thì mối quan tâm hàng đầu của chủ các cơ sở gây nuôi là lợi nhuận. Các cơ sở gây nuôi thương mại vì vậy sẽ không đầu tư vào cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sinh sản hay có kiến thức để đảm bảo tránh giao phối cận huyết, lai tạp nguồn gen, những điều kiện cơ bản để tái thả ĐVHD về tự nhiên (nếu có). Hơn nữa, hầu hết các cá thể ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được gây nuôi đã bị mất đi bản năng sinh tồn và kỹ năng cần thiết giúp chúng sống sót trong tự nhiên nếu được tái thả.

Sự song song tồn tại của cả sản phẩm ĐVHD hợp pháp và bất hợp pháp trên thị trường gây khó khăn lớn cho công tác thực thi pháp luật, tạo điều kiện cho các đối tượng vi phạm lợi dụng để buôn bán, kinh doanh ĐVHD bất hợp pháp. Ông Khổng Trung, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị giải thích: “Các cán bộ thực thi pháp luật không thể phân biệt được giữa sản phẩm ĐVHD được gây nuôi hợp pháp từ các trang trại và các sản phẩm bị săn bắt trái phép từ tự nhiên được đem đi tiêu thụ trên thị trường”. Ông Trung cho biết thêm: “Chúng tôi sẽ không thể phân biệt được cao hổ và mật gấu từ tự nhiên hay do nuôi nhốt một khi đã bị đưa ra thị trường. Cách duy nhất để bảo vệ ĐVHD là nên nghiêm cấm mọi hình thức buôn bán các loài này để các cán bộ thực thi pháp luật làm tốt phần việc của mình”.

Ngoài ra, một số loài ĐVHD hiện đã được gây nuôi thành công nhưng vẫn tiếp tục bị săn bắt ngoài tự nhiên. Theo bà Jenny Daltry, cán bộ cao cấp về bảo tồn sinh vật học, Tổ chức Động thực vật hoang dã quốc tế (FFI): Việc gây nuôi thương mại đã khiến cho ngày càng nhiều ĐVHD bị săn bắt trong tự nhiên. Kể cả nếu những cơ sở này có thể gây nuôi và cho sinh sản được thì nhu cầu săn bắt ĐVHD từ tự nhiên vẫn là rất lớn. Lý do là chi phí săn bắt động vật ngoài tự nhiên bao giờ cũng rẻ hơn so với tự mình cho sinh sản, nuôi dưỡng, chăm sóc chúng hàng năm trời. Nếu không có sự giám sát quản lý chặt chẽ, các cơ sở này sẽ dẫn đến lỗ hổng trong luật pháp và thúc đẩy nhu cầu săn bắt ĐVHD trong tự nhiên. Lại có trường hợp nhiều người thích tiêu thụ ĐVHD từ tự nhiên hơn bởi họ cho rằng động vật tự nhiên sẽ tốt hơn động vật trong trang trại.

PGS. TS. Lê Xuân Cảnh, Nguyên Viện trưởng Viện sinh thái và Tài nguyên Sinh vật – một trong những cơ quan khoa học CITES Việt Nam nhận định: “Bảo tồn nền đa dạng sinh học độc đáo của đất nước luôn là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển. Để gìn giữ đa dạng sinh học cho thế hệ tương lai, chúng ta cần phải nghiêm túc bảo vệ các loài ĐVHD, đặc biệt là những loài có nguy cơ bị mất đi vĩnh viễn. Việc gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm có thể mang lại lợi nhuận cho một số người, song nó lại đe dọa nghiêm trọng đa dạng sinh học đất nước”.

 

Kết quả điều tra “Gây nuôi thương mại ĐVHD tại Việt Nam” của ENV

Trong thời gian từ tháng 10/2014 đến tháng 7/2015, ENV đã thực hiện một khảo sát về tình trạng gây nuôi thương mại ĐVHD tại 26 cơ sở có quy mô lớn ở Việt Nam. Kết quả khảo sát tại 26 cơ sở gây nuôi ĐVHD lớn tại Việt Nam:
- 100% cơ sở có dấu hiệu nhập lậu ĐVHD ở những mức độ khác nhau.
- 100% các cơ sở cho biết thường xuyên bổ sung các cá thể săn bắt từ tự nhiên.
- 89% các cơ sở cho biết không áp dụng bất cứ biện pháp nào để ngăn chặn giao phối cận huyết.
- 91% các cơ sở cho biết có mua giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của ĐVHD từ các cơ sở khác hoặc trực tiếp từ cán bộ kiểm lâm.
- 76% các cơ sở cho biết lực lượng kiểm lâm nhận hối lộ dưới nhiều hình thức.
Một số vi phạm phổ biến:
- Khai báo không trung thực số lượng ĐVHD sinh mới/chết tại cơ sở.
- Mua bán ĐVHD không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của ĐVHD.
- Mua, bán, tái sử dụng giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của ĐVHD.

 

Hà Nhân

,
.
.
Ý kiến bạn đọc
.
.
.
.